Chỉ số giá tiêu dùng toàn quốc

TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI THÁNG 6/2016
Tình hình kinh tế xã hội | Tình hình kinh tế xã hội

Tốc độ phát triển một số chỉ tiêu Kinh tế chủ yếu tỉnh Khánh Hòa
tháng 6/2016 so với tháng trước và 6 tháng năm 2016 so với cùng kỳ năm trước

 (%)

Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu

Tháng 6/2016  so với tháng trước

6 tháng năm 2016 so với cùng kỳ năm trước

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp

96,85

109,00

Vốn đầu tư ngân sách nhà nước thực hiện

114,15

102,54

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

102,51

114,52

Tổng kim ngạch xuất khẩu

77,25

113,44

Tổng kim ngạch nhập khẩu

89,02

93,32

Doanh thu du lịch

124,82

121,45

Khách quốc tế đến Khánh Hòa

99,93

126,43

Chỉ số giá tiêu dùng

100,38

101,11

Chỉ số giá vàng

100,03

96,81

Chỉ số giá đô la Mỹ

100,25

102,36

 

Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ sốgiá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
Tháng 6 năm 2016

 

Chỉ số giá tháng 6/2016 so với (%)

Bình 
năm 2016 so
cùng
kỳ

Kỳ gốc 2009

Cùng tháng năm trước

Tháng 12 năm trước

Tháng trước

Chỉ số giá tiêu dùng

101,93

101,11

101,26

100,38

101,03

I. Hàng ăn và dịch vụ ăn uống

103,91

101,38

100,75

100,08

101,42

   Trong đó:  1- Lương thực

101,35

104,97

103,74

100,22

101,81

                    2- Thực phẩm

105,94

101,23

100,41

100,10

101,64

                    3- Ăn uống ngoài gia đình

101,26

100,23

100,23

100,00

100,96

II. Đồ uống và thuốc lá

105,86

105,19

103,66

100,00

103,93

III. May mặc, mũ nón, giầy dép

101,98

100,66

100,04

100,04

100,57

IV. Nhà ở, điện, nuớc, chất đốt,VLXD

105,32

102,68

103,69

100,61

103,61

V. Thiết bị và đồ dùng gia đình

101,01

100,35

100,12

100,01

100,45

VI. Thuốc và dịch vụ y tế

110,10

110,48

110,48

100,00

106,90

VII. Giao thông

79,87

88,86

96,09

103,36

90,59

VIII. Bưu chính viễn thông

98,44

100,00

100,00

100,00

100,00

IX. Giáo dục

105,77

102,31

100,00

100,00

101,93

X. Văn hoá, giải trí và du lịch

103,83

101,66

101,84

100,02

100,97

XI. Hàng hoá và dịch vụ khác

103,94

102,71

102,73

100,09

101,97

Chỉ số giá vàng

93,95

96,81

101,63

100,03

96,14

Chỉ số giá đô la Mỹ

105,24

102,36

98,73

100,25

102,75

 

Giá Bán Lẻ Hàng Hóa tháng 6 năm 2016

DANH MỤC HÀNG HÓA

ĐVT

THÁNG 6/2016

THÁNG 6/2015

THÁNG 12/2015

Gạo tẻ thường ( ML 202)

đ/kg

9.898

9.398

9.398

Gạo tẻ ngon ( Gò Công)

đ/kg

16.092

16.183

15.592

Gạo nếp thường

đ/kg

16.684

15.719

15.782

Sắn tươi

đ/kg

7.607

7.518

7.607

Thịt lợn mông sắn                 

đ/kg

90.978

91.457

85.918

Thịt bò bắp

đ/kg

204.708

200.403

203.674

Gà mái ta còn sống  1.5 kg/con

đ/kg

94.836

95.527

85.361

Trứng vịt loại vừa

Đồng /10 quả

27.790

27.258

26.504

Dầu ăn Tường An 1 lít

đ/lít

42.793

42.193

41.793

Đậu xanh hạt loại 1

đ/kg

34.231

37.129

34.231

Đậu nành

đ/kg

17.559

20.336

17.559

Đậu phụng loại 1

đ/kg

43.729

40.008

43.729

Cá thu khúc giữa

đ/kg

201.777

191.036

221.965

Muối hạt

đ/kg

2.789

2.893

2.789

Nước mắm cá cơm 15 độ đạm

đ/lít

23.389

24.369

23.389

Bột ngọt Ạinomoto gói 454 g

đ/kg

62.093

61.211

62.093

Sữa đặt có đường hiệu Ông Thọ

đ/hộp

21.000

21.000

21.000

Nước khoáng VIKODA 500ml

đ/lít

7.975

7.765

7.975

Bia hơi Win – San Migue

đ/lít

7.391

7.391

7.391

Thuốc lá White Hore Khánh Hòa

đ/bao

21.000

20.196

21.000

Đường trắng kết tinh Khánh Hòa

đ/kg

17.173

16.390

16.672

Giấy kẻ ngang 20 tờ/tập

đ/tập

5.378

5.200

5.378

Vitamin B1 – 100mg. lọ 100 viên

đ/100viên

6.188

7.097

6.188

Xi măng đen PC40 Hoàng Thạch

đ/kg

1.736

1.740

1.736

Gạch xây ( gạch ống Tuynen)

đ/viên

907

913

907

Dầu hỏa

đ/lít

10.060

15.917

12.687

Xăng A92              

đ/lít

16.370

20.673

17.285

Điện sinh hoạt

đ/kwh

1.966

1.929

1.915

Gas đun ( bình 12kg-Shellgas)

đ/kg

23.981

27.435

26.271

Nước máy               

đ/m3

5.483

5.258

5.360

Vàng 99.99%

Nghìn đ/chỉ

3.379

3.492

3.325

Đô la Mỹ

đ/USD

22.356

21.842

22.645

 

BÁO CÁO
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa
6 tháng đầu năm 2016

                                                   

6 tháng đầu năm 2016, kinh tế cả nước diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục xu hướng phục hồi nhưng chậm và chứa đựng nhiều rủi ro. Ở Khánh Hòa, tình hình nắng nóng kéo dài gây hạn hán; xâm nhập mặn … Trước tình hình đó, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã tổ chức quán triệt đến các cấp, các ngành, các DN về Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2016 của Chính phủ “về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2016”. Đồng thời, để chủ động ứng phó với tình hình hạn hán, xâm nhập mặn, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 831/QĐ-UBND về Phương án phòng, chống hạn và xâm nhập mặn năm 2016 trên địa bàn tỉnh; cùng với sự nỗ lực của các doanh nghiệp và nhân dân toàn tỉnh. Nhờ đó kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển ổn định.

1.  Tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) 6 tháng đầu năm 2016 (giá so sánh 2010) được 20.947,1 tỷ đồng, tăng 7,7% so cùng kỳ năm trước; GRDP theo ngành kinh tế tăng 7,12% (ngành công nghiệp và xây dựng tăng 10,06%, ngành dịch vụ tăng 7,62%, riêng ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 0,74%); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 10,77%.

Trong tổng mức tăng chung, khu vực dịch vụ đóng góp nhiều nhất vào mức tăng trưởng chung. Một số ngành chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng khá so cùng kỳ năm trước: Ngành thương mại tăng 9,04%; dịch vụ ăn uống tăng 9,09%; thông tin truyền thông tăng 7,85%. Khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp tăng 10,03%, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt mức tăng cao nhất với 10,57%, góp phần quan trọng vào mức tăng trưởng chung và ngành xây dựng tăng 10,2%. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 0,74% do thời tiết nắng nóng kéo dài, gây khô hạn, các hồ chứa không cung cấp đủ nước đã ảnh hưởng đến tiến độ gieo trồng cũng như giảm sản lượng cây hàng năm.

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) giá thực tế 6 tháng đầu năm 2016 là 28.177,55 tỷ đồng. Về cơ cấu nền kinh tế: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 14,73%; khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 30,66%; khu vực dịch vụ chiếm 38,81%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 15,8%.

Hoạt động sản xuất kinh doanh của các ngành kinh tế, văn hoá xã hội trên địa bàn tỉnh được thể hiện cụ thể như sau:

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp:

Vụ đông xuân 2015 – 2016, toàn tỉnh gieo trồng được 49.783,5 ha, giảm 2,7% so vụ đông xuân năm trước, trong đó lúa 19.539,3 ha, giảm 2,3%; cây chất bột có củ 5.679,7 ha, giảm 5,7%; cây công nghiệp hàng năm 19.553,5 ha, giảm 4,21%. Thời tiết nắng nóng kéo dài, ít mưa gây khô hạn, các hồ chứa nước không cung cấp đủ nước, cộng với một số bệnh ở cây trồng như trắng lá, đỏ bẹ ở cây mía; đạo ôn, rầy nâu ở lúa nên diện tích gieo trồng giảm. Về cây lương thực: Năng suất bình quân lúa 61,24 tạ/ha, sản lượng 119.654,6 tấn; năng suất bình quân ngô 22,4 tạ/ha, sản lượng 4.060 tấn. So vụ đông xuân năm trước, năng suất lúa bình quân giảm 2,53 tạ/ha, sản lượng giảm 7.878,84 tấn; ngô năng suất giảm 0,89 tạ/ha nhưng nhờ tăng diện tích gieo trồng nên sản lượng ngô tăng 127 tấn. Tính chung tổng sản lượng lương thực 6 tháng đầu năm 2016 toàn tỉnh được 123.714,6 tấn, giảm 5,9% so vụ đông xuân năm trước. Sản lượng nhiều loại cây trồng vụ đông xuân tăng so vụ đông xuân năm trước: Lạc tăng 13,7%; đậu tương tăng 9,89%;... Toàn tỉnh cũng đã cơ bản thu hoạch xong 18.984 ha mía và 5.435 ha sắn năm trước chuyển sang với sản lượng mía giảm 12%; sắn giảm 17,3% so cùng kỳ năm trước.

Những ngày đầu tháng 6/2016, thời tiết có mưa nên các địa phương đã đẩy nhanh tiến độ gieo sạ lúa hè thu và trồng cây vụ mùa, gieo sạ được 9.187 ha lúa hè thu, tăng 12,24% so cùng vụ năm trước. Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm tính từ đầu vụ đông xuân 2015 - 2016 đến nay ước được 60.446,7 ha, bằng 74,2% kế hoạch, trong đó cây lương thực 31.369,6 ha, bằng 64,3%; cây chất bột có củ 5.744 ha, bằng 90,4%; cây thực phẩm 3.290,3 ha, bằng 53,2%; cây công nghiệp hàng năm 19.581,9 ha, bằng 97,3%. So với cùng kỳ năm trước, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm giảm 1,3%, trong đó cây lương thực tăng 0,8%; cây chất bột có củ giảm 4,9% chủ yếu giảm diện tích trồng sắn 5,8%; cây công nghiệp hàng năm giảm 4,2%, trong đó diện tích mía giảm 4,5%; riêng cây thực phẩm tăng 4,3%.

 Theo kết quả điều tra chăn nuôi 01/4/2016, toàn tỉnh có 4.565 con trâu, tăng 13 con so thời điểm 01/4/2015; 72.793 con bò, tăng 1.228 con; 155.223 con lợn, tăng 30.786 con do trên địa bàn tỉnh không xảy ra dịch bệnh; riêng 2.482,1 nghìn con gia cầm, giảm 25,5 nghìn con, giảm chủ yếu đàn vịt 60,8 nghìn con. Công tác phòng chống dịch ở đàn gia súc, gia cầm tiếp tục được kiểm tra, giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh, chủ động tăng cường công tác phòng chống dịch cúm gia cầm, lở mồm long móng, lợn tai xanh… vệ sinh tiêu độc chuồng trại, kiểm soát các cơ sở kinh doanh, giết mổ đề phòng dịch bệnh xảy ra trên địa bàn tỉnh, kiểm soát chặt chẽ việc lưu thông, vận chuyển gia súc, gia cầm và sử dụng chất cấm trong chăn nuôi.

b) Lâm nghiệp:

6 tháng đầu năm 2016, khai thác gỗ từ rừng trồng được 15.179 m3, tăng 8,69% so với cùng kỳ năm trước; chăm sóc rừng trồng 4.134 ha, tăng 13,88%; diện tích rừng trồng giao khoán, bảo vệ 6.233 ha, giảm 1,72%. Thực hiện Chỉ thị số 10/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ “Về việc tăng cường các biện pháp cấp bách phòng cháy, chữa cháy rừng”. Theo đó, UBND tỉnh Khánh Hòa chỉ đạo các Sở ban ngành, các đơn vị có liên quan chủ động thực hiện có hiệu quả phương án phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn nên từ đầu năm đến nay chưa xảy ra cháy rừng. Từ ngày 01/01/2016 đến 14/6/2016 lực lượng kiểm lâm đã phát hiện 272 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, xử lý 236 vụ, tịch thu 435,8 m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách 3.407 triệu đồng tiền phạt và tiền bán lâm sản tịch thu.

c) Thủy sản:

Từ đầu năm đến nay thời tiết tương đối thuận lợi cho việc đánh bắt thủy sản, giá các mặt hàng thủy sản ổn định ở mức cao, ngư dân có lãi, cùng với việc giải quyết kịp thời chính sách hỗ trợ cho ngư dân đánh bắt xa bờ. Ngoài ra các ngành chức năng đã hỗ trợ ngư dân đầu tư máy móc, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong khai thác, bảo quản cá ngừ đại dương theo công nghệ Nhật Bản nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm đánh bắt nên sản lượng khai thác thủy sản 6 tháng đầu năm 2016 được 52.218,3 tấn, tăng 4,67% so cùng kỳ năm trước: 46.001,2 tấn cá, tăng 4,53% (trong đó cá ngừ đại dương được 1.982,4 tấn, tăng 13,28%); 677,9 tấn tôm, tăng 3,5%; 5.539,3 tấn thủy sản khác, tăng 5,99%.

Sản lượng nuôi trồng thủy sản được 7.336,1 tấn, giảm 4,64% so cùng kỳ năm trước: Cá 2.326 tấn, giảm 0,65%; tôm 3.000 tấn, giảm 11,89% (trong đó 2.512 tấn tôm thẻ chân trắng, giảm 11,9%; 146 tấn tôm sú, giảm 14,1%; 342 tấn tôm hùm, giảm 11,2% do diện tích nuôi tôm chưa đến kỳ thu hoạch); thủy sản khác 2.009,2 tấn, tăng 3,24%, tăng chủ yếu ốc hương 1.460 tấn, tăng 4,4%.

Diện tích nuôi trồng thủy sản 6 tháng đầu năm 2016 ước được 3.305,9 ha, giảm 5,68% so cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích nuôi tôm sú 201,8 ha, giảm 3,9%; tôm thẻ chân trắng 1.679,2 ha, giảm 9,28% do thời tiết nắng nóng kéo dài, tôm dễ bị sốc nhiệt, dễ bị dịch bệnh nên một số cơ sở chuyển sang nuôi ốc hương, giá ốc hương thương phẩm ổn định ở mức cao và dịch bệnh ít xảy ra.

3. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2016 tăng 9% so cùng kỳ năm trước (cao hơn mức tăng 8,85% của cùng kỳ năm 2015 và mức tăng 7,22% của cùng kỳ năm 2014): Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,36%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước tăng 4,35%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,31%; riêng công nghiệp khai khoáng giảm 1,47%.

So cùng kỳ năm trước, một số ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có chỉ số sản xuất 6 tháng đầu năm 2016 tăng cao hơn mức tăng chung của ngành công nghiệp như: Sản xuất đồ uống tăng 22,86%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 13,2%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 12,42%; sản xuất trang phục tăng 12,23%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 12,11%; dệt tăng 9,49%. Các ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất tăng thấp như: Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 8,79%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 7,13%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 3,04%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 1,76%.

Một số sản phẩm có chỉ số sản xuất 6 tháng đầu năm 2016 tăng so cùng kỳ năm trước: Đường RE tăng 28,48%; thủy sản ướp đông khác tăng 29,87%; cá khác đông lạnh tăng 28,94%; nước yến tăng 24,18%; bộ quần áo thể thao khác tăng 22,42%; bia hơi tăng 15,81%; bia đóng chai tăng 15,7%; sợi tơ tổng hợp tăng 15,87%; thuốc lá có đầu lọc tăng 3,04%;... Một số sản phẩm có chỉ số giảm như: mực đông lạnh giảm 45,8%; bia đóng lon giảm 25,61%; đường RS giảm 19,74%; cát tự nhiên các loại giảm 18,35%; bia tươi giảm 10,69%.

Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 5/2016 tăng 0,1% so cùng kỳ năm trước và tăng 5,1% so với tháng trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2016, chỉ số tiêu thụ tăng 1,68% so cùng kỳ năm trước. Các ngành có chỉ số tiêu thụ 5 tháng đầu năm 2016 tăng cao hơn mức tăng chung so với cùng kỳ năm trước là: Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 20,69%; sản xuất đồ uống tăng 19,94% (sản xuất bia và mạch nha ủ men bia tăng 1,76%; sản xuất đồ uống không cồn, nước khoáng tăng 25,25%); sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 7,34% (sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét tăng 2,98%; sản xuất bê tông, các sản phẩm từ xi măng và thạch cao tăng 10,05%); dệt tăng 6,84%; sản xuất và chế biến thực phẩm tăng 5,73%; sản xuất trang phục tăng 5,15%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 4,89%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp hoặc giảm là: Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 1,19%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 6,2%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 12,3%.

4. Đầu tư và xây dựng

6 tháng đầu năm 2016, có thêm 02 dự án đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép là Dự án Liên doanh giữa công ty TNHH MTV Phát triển trang phục kiểu Pháp và công ty TNHH Sunbo Hồng Kông chuyên sản xuất cúp áo ngực và công ty TNHH S-Global chuyên chế biến muối, tổng vốn đầu tư 4,07 triệu USD; nhưng cũng có 01 dự án bị thu hồi giấy phép là công ty TNHH Han Sung Vina vốn đầu tư 1 triệu USD. Đầu tư trong nước có thêm 1.222 DN đăng ký thành lập với tổng số vốn đầu tư đăng ký 5.786,6 tỷ đồng.

UBND tỉnh tiếp tục chỉ đạo công tác quản lý đầu tư từ ngân sách nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư và tránh nợ đọng trong xây dựng cơ bản. Triển khai thẩm định, ra quyết định đầu tư cho các dự án mới giai đoạn 2016 – 2020, huy động vốn Trung ương hỗ trợ cho các dự án đặc thù, quan trọng của tỉnh. Đẩy nhanh công tác đền bù giải tỏa, tái định cư để các dự án triển khai đúng kế hoạch.

Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 6 tháng đầu năm 2016 ước được 13.670 tỷ đồng, tăng 13,67% so cùng kỳ năm trước: Vốn nhà nước 4.350,22 tỷ đồng, tăng 13,03% (vốn trung ương quản lý 1.809,16 tỷ đồng; vốn địa phương quản lý 2.541,06 tỷ đồng tăng lần lượt là 17,81% và 9,87%); vốn ngoài nhà nước 9.019,76 tỷ đồng, tăng 13,98% và vốn nước ngoài 300 tỷ đồng, tăng 13,52%. Trong tổng vốn đầu tư phát triển, vốn đầu tư xây dựng cơ bản chiếm cao nhất 83,69%; vốn đầu tư mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất không qua xây dựng cơ bản chiếm 8,78%; vốn đầu tư sửa chữa lớn, nâng cấp TSCĐ; vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động và vốn đầu tư khác chiếm 7,53%.

Thời tiết thuận lợi đã tạo điều kiện cho các đơn vị đẩy nhanh tiến độ một số công trình chuyển tiếp của năm 2015, một số công trình trong kế hoạch 2016 đã được triển khai. Các công trình có tiến độ thi công và vốn thực hiện khá là: UBND phường Phước Long, phòng Quản lý đô thị TP, trung tâm huấn luyện chiến đấu cho LLVT, thư viện trung tâm VHTT TP, trường MN Vĩnh Thọ, trường MN Phước Đồng, trường MN Vĩnh Thạnh, trường TH Vĩnh Trung, trường MG Phương Sơn, trường MN Vĩnh Phương 1, trường TH Phước Hải 3, trường THCS Nguyễn Đình Chiểu, trường TH Xương Huân, trường TH Vĩnh Hiệp, trường TH Ngọc Hiệp, trường TH Phước Long 2, trường TH Vĩnh Hải 1, trường TH Vạn Thắng, trường THCS Lam Sơn, UBND phường Vĩnh Phước, CSHT khu dân cư 32 - 33 Vĩnh Thọ, CSHT khu dân cư Hòn Rớ II, hương lộ Ngọc Hiệp, đường vào xã Vĩnh Thái, đường nghĩa trang Phước Đồng, đường Miếu Bà đến cầu Ông Bộ, đường nhà VH thôn Võ Dõng đến Cty Gia Đại, HT thoát nước đường Tân Trang, khu TĐC Phước Hạ, HT thoát nước đường Yên Thế, HT thoát nước đường Hương Sơn, HT thoát nước đường Nguyễn Tất Thành (Nha Trang); đường D2 Cam Phúc Bắc, đường Nguyễn Bính, kè 2 bờ sông Trà Long, KDC bến xe phường Cam Lộc, khu dân cư Cam Thịnh Đông (Cam Ranh); đường Hoàng Quốc Việt, đường ngang TDP Bãi Giếng Trung, đường tỉnh lộ 9 đến hồ Suối Hành, đường từ ngã 3 Xóm Mới lên Hòn Rắn, đường tỉnh lộ 9 đến Láng Chai, đường Đại Hàn, mương Đồng Gò Nần, mương B4 thôn Xuân Lập (Cam Lâm); hội trường UBND phường Ninh Hà, đường Vạn Thiện, kè chống xói lở bờ sông Dinh (Ninh Hòa); trụ sở UBND xã Vạn Khánh, hội trường UBND huyện, trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, đài tưởng niệm liệt sĩ huyện, trường MG Vạn Phú, trường MG Vạn Phước, trường MN Bình Minh, trường TH Vạn Giã, trường TH Vạn Hưng 1, trường TH Vạn Hưng 2, trường TH Vạn Bình 2, trường TH Vạn Lương 3, đường Lê Lợi, đường Lý Thường Kiệt, khu TĐC Vạn Lương, CSHT khu dân cư Ruộng Lù, mương thoát lũ Ruộng Đùi (Vạn Ninh); hồ trung tâm huyện, trụ sở thanh tra huyện, hội trường Huyện ủy, trường TH xã Cầu Bà, đường trước UBND xã đi khu TĐC Bố Lang, khu TĐC thị trấn Khánh Vĩnh, cầu vào khu sản xuất Gia Lố, cầu Hoàng Quốc Việt (Khánh Vĩnh); kè và đường dọc sông Cái, kè chống sạt lở bờ Bắc, KDC Phú Ân Nam 2 (Diên Khánh); trường MN Sao Mai, tỉnh lộ 9 nối xã Ba Cụm Bắc đến thị trấn Tô Hạp (gđ 2), đường Hai Bà Trưng, đường Tà Gụ, đường Tà Giang 2 đi khu sản xuất, đường đi khu sản xuất Suối Lớn, đường bê tông đi khu sản xuất APA1 (Khánh Sơn)…

Ước 6 tháng đầu năm 2016, có 52 công trình khởi công mới với tổng dự toán trên 117,1 tỷ đồng và 45 công trình hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng với tổng vốn đầu tư trên 180,6 tỷ đồng; tạo năng lực mới tăng gồm 7,5 km đường giao thông, 350 m2 nhà làm việc, 1.817 m2 khối hành chính trường học, 367 m2 trường mẫu giáo, 1.980 chỗ/54p trường học, 250 m2 nhà văn hóa, 6.190 m mương thoát nước, 753 m mương nội đồng và 139 m kè chắn sóng…

5. Thương mại, dịch vụ:

a) Tổng mức bán hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng:

Các hoạt động kinh doanh thương mại, du lịch, dịch vụ trên địa bàn tỉnh diễn ra khá sôi động; hưởng ứng cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” với giá cả phải chăng, chất lượng tốt, hợp khẩu vị, mẫu mã đẹp và đảm bảo an toàn thực phẩm; các cơ sở kinh doanh mở rộng sản xuất, nguồn cung dồi dào, hàng hóa phong phú, mẫu mã hấp dẫn nhằm phục vụ nhân dân mua sắm Tết và phục vụ khách du lịch trong những ngày lễ lớn như giỗ tổ Hùng Vương 10/3, ngày chiến thắng 30/4, Quốc tế lao động 1/5 góp phần nâng tổng mức bán hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2016 ước được 62.652,6 tỷ đồng, tăng 14,60% so cùng kỳ năm trước: Kinh tế nhà nước 15.327,4 tỷ đồng, tăng 15,36%, (trong đó các DN thương mại dịch vụ nhà nước được 8.966,93 tỷ đồng, tăng 8,42%; với các mặt hàng bán ra: 348,48 triệu bao thuốc lá, giảm 4,49%; 181.678 tấn xăng dầu, tăng 5,78%); kinh tế tập thể 41 tỷ đồng, tăng 47,02%; kinh tế tư nhân, cá thể và hỗn hợp 47.181,86 tỷ đồng, tăng 14,28% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 102,32 tỷ đồng, tăng 43,67%. Trong tổng mức hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2016, tổng mức bán lẻ được 34.768,5 tỷ đồng, tăng 14,52% (nếu loại trừ yếu tố giá tăng 13,49%): Bán lẻ ngành thương mại được 26.365,29 tỷ đồng, tăng 14,86%; ngành lưu trú và ăn uống 5.881,98 tỷ đồng, tăng 13,98%; ngành du lịch lữ hành 94,99 tỷ đồng, tăng 18,54% và ngành dịch vụ 2.426,24 tỷ đồng, tăng 12,04%.

Chi cục quản lý thị trường kết hợp với các ngành chức năng tăng cường công tác kiểm tra chống đầu cơ, tăng giá, kiểm tra xuất xứ đối với các mặt hàng thực phẩm chế biến, nước giải khát.... Ngăn chặn và xử lý hành vi sản xuất buôn bán vận chuyển tàng trữ trái phép các chất cháy nổ, pháo nổ, kiểm tra chặt chẽ việc niêm yết giá bán và bán hàng hóa theo giá niêm yết. 6 tháng đầu năm 2016, Chi cục quản lý thị trường đã kiểm tra 1.488 lượt cơ sở SXKD, phát hiện 480 vụ vi phạm, xử phạt hành chính 479 cơ sở, thu nộp ngân sách 1.828,4 triệu đồng.

b) Xuất, nhập khẩu hàng hóa:

6 tháng đầu năm 2016, trên địa bàn tỉnh đã có 83 DN tham gia xuất khẩu, với kim ngạch xuất khẩu hàng hóa toàn tỉnh ước được 607,96 triệu USD, tăng 13,44% so cùng kỳ năm trước: Kinh tế tư nhân được 228,53 triệu USD, tăng 16,26%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 352,85 triệu USD, tăng 14,08%; kinh tế tập thể 876,2 nghìn USD, tăng 8,53%; kinh tế nhà nước được 25,7 triệu USD, giảm 12,24%. Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng cao so cùng kỳ năm trước: 209,4 nghìn USD hàng rau quả, tăng gấp 3,22 lần; 62,27 triệu USD cà phê, tăng 95,53%; 2,8 triệu USD hàng thủ công mỹ nghệ, tăng 46,62%; 853,3 nghìn USD kim loại thường khác, tăng 34,04%; 34,72 triệu USD gỗ và các sản phẩm từ gỗ, tăng 25,5%; 251,1 triệu USD phương tiện vận tải và phụ tùng, tăng 17,53%. Một số mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch tăng thấp hoặc giảm như: 186,73 triệu USD hải sản các loại, tăng 6,77%; 6,2 triệu USD máy móc thiết bị và phụ tùng, giảm 31,65%; 4,05 triệu USD sắn và các sản phẩm từ sắn, giảm 52,09%; 1,04 triệu USD cát vàng, giảm 31,38%; 33,2 triệu USD hàng dệt may, giảm 15,66%; 1,01 triệu USD cao su, giảm 14,74%; 20,39 triệu USD các nhóm hàng hoá khác, giảm 5,73%; 2,72 triệu USD hạt điều, giảm 1,61%.

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm 2016 ước được 326,05 triệu USD, giảm 6,68% so cùng kỳ năm trước: Kinh tế nhà nước địa phương 52,29 triệu USD, tăng 24,19%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 184,38 triệu USD, giảm 13,29%; kinh tế tư nhân 89,38 triệu USD, giảm 5,57%. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng so cùng kỳ năm trước: 1,49 triệu USD sản phẩm hóa chất, tăng gấp 3,69 lần; 2,4 triệu USD nguyên phụ liệu dược phẩm, tăng gấp 3,62 lần; 19,1 triệu USD sản phẩm từ giấy, tăng gấp 3,1 lần; 2,87 triệu USD nguyên liệu và thuốc tân dược, tăng gấp 2,3 lần; 2,8 triệu USD chất dẻo nguyên liệu, tăng 94,73%; 1,87 triệu USD gỗ và sản phẩm từ gỗ, tăng 62,59%; 2,61 triệu USD kim loại thường khác, tăng 58,51%; 947,2 nghìn USD hóa chất, tăng 18,24%; 186,73 triệu USD hải sản các loại, tăng 6,77%, trong đó thị trường xuất khẩu lớn như Mỹ với 45,3 triệu USD chiếm 24,25%, Nhật Bản 34,6 triệu USD chiếm 18,53%; 89,13 triệu USD máy móc phụ tùng, tăng 2,1%. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu giảm như: 10,4 triệu USD thức ăn gia súc và nguyên liệu, giảm 55,39%; 22,4 triệu USD sắt thép các loại, giảm 43,64%; 1,9 triệu USD phụ tùng vận tải, giảm 41,69%; 829,3 nghìn USD bông các loại, giảm 41,68%; 458,5 nghìn USD giấy các loại, giảm 24,44%; 11,86 triệu USD vải và phụ liệu may, giảm 22,57%; 64,23 triệu USD hàng thủy sản, giảm 6,67%; 59,62 triệu USD các nhóm hàng hóa khác, giảm 2,94%; 31,77 triệu USD nguyên phụ liệu thuốc lá, giảm 0,72%.

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu, 6 tháng đầu năm 2016 kim ngạch hàng hóa nhập khẩu trên 55 quốc gia và vùng lãnh thổ. Một số thị trường có kim ngạch hàng hóa nhập khẩu giảm so cùng kỳ năm trước: Thị trường Hàn Quốc 151,02 triệu USD, giảm 21,21%, trong đó 22,86 triệu USD sắt thép giảm 42,49%, 44,54 triệu USD máy móc thiết bị giảm 20,5%, 53,24 triệu USD hàng hóa khác giảm 5,2%, 18,36 triệu USD hàng thủy sản tăng 29,08%, 7,88 triệu USD sản phẩm từ giấy tăng gấp 2,66 lần; Mỹ 8,62 triệu USD, giảm 11,37%, trong đó 1,47 triệu USD thủy sản giảm 42,35%, 1,78 triệu USD thức ăn và nguyện liệu cho gia súc giảm 38,14%, 2,77 triệu USD nguyên phụ liệu thuốc lá tăng 8,58%; Nhật Bản 9,46 triệu USD, giảm 5,81%. Các thị trường có kim ngạch nhập khẩu tăng so cùng kỳ năm trước: Thị trường Trung Quốc 55,42 triệu USD tăng gấp 2,68 lần, trong đó 11,31 triệu USD hàng thủy sản tăng gấp 5 lần, 33,86 triệu USD máy móc tăng gấp 3,87 lần; Đài Loan 20,69 triệu USD tăng 34,83%, trong đó 17,68 triệu USD hàng thủy sản tăng 52,22%; Singapore 37,01 triệu USD tăng 26,64%, trong đó 24,73 triệu USD nguyên phụ liệu thuốc lá tăng 1,19%.

Cán cân thương mại hàng hóa 6 tháng đầu năm 2016 với xuất siêu 281,9 triệu USD: Khu vực kinh tế trong nước 113,43 triệu USD và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 168,47 triệu USD.

c) Dịch vụ:

Khách du lịch quốc tế đến Khánh Hòa tăng mạnh đã góp phần đưa doanh thu hoạt động du lịch 6 tháng đầu năm 2016 được 2.614,65 tỷ đồng, tăng 21,45% so cùng kỳ năm trước; khách lưu trú được 2.077,3 nghìn lượt người với 4.827,12 nghìn ngày khách, tăng lần lượt là 14,75% và 16,01%, trong đó 523,99 nghìn lượt khách quốc tế với 1.614,23 nghìn ngày khách quốc tế (chủ yếu là khách Trung Quốc), tăng lần lượt là 26,43% và 26,7%. Tính từ đầu năm đến nay, Cảng Nha Trang đã đón được 23 chuyến tàu chở khách du lịch quốc tế bằng đường biển với 35,2 nghìn lượt khách đến tham quan và du lịch nâng tổng số lượt khách tham quan, du lịch toàn tỉnh được 8,42 triệu lượt người.

6. Giá cả

a) Chỉ số giá tiêu dùng (CPI):

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2016 tăng 0,38% so tháng trước, chủ yếu do tác động của việc điều chỉnh giá xăng dầu tăng. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 7 nhóm hàng có chỉ số giá tăng so tháng trước như: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,08%, trong đó lương thực tăng 0,22%, thực phẩm tăng 0,1%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,04%; nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD tăng 0,61%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,01%; giao thông tăng 3,36%, chủ yếu do giá xăng, dầu trong nước điều chỉnh tăng vào ngày 20/5 và ngày 04/6/2016; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,03%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,09%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá ổn định như: Đồ uống và thuốc lá; thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông và giáo dục.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 6/2016 tăng 1,26% so với tháng 12/2015 và tăng 1,11% so cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 6 tháng đầu năm 2016 tăng 1,03% so với bình quân cùng kỳ năm 2015. Một số nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng cao so tháng 12/2015 như: Chỉ số giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,75%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,66%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 3,69%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 10,48%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,84%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,73%; riêng chỉ số giá giao thông giảm 3,91%; các nhóm bưu chính viễn thông; giáo dục ổn định.

Giá bán lẻ bình quân chung một số mặt hàng tháng 6/2016: Gạo tẻ ngon (Gò Công) 16.092 đồng/kg; nếp thường (hạt tròn) 16.684 đồng/kg; thịt bò bắp 204.708 đ/kg; thịt lợn mông sấn 90.978 đồng/kg; gà mái ta còn sống 94.836 đồng/kg; trứng vịt 27.790 đồng/10 quả; cá thu khúc giữa 201.777 đồng/kg; dầu ăn Tường An 42.793 đồng/lít; đường trắng kết tinh 17.173 đồng/kg; bột ngọt AJINOMOTO 62.093 đồng/kg; sữa ông thọ 380g 21.000 đồng/hộp; gas đun (bình 12 kg-Shellgas) 287.772 đồng/bình; vàng 99,99% 3.379 nghìn đồng/chỉ; đô la Mỹ 22.356 đồng/USD.

b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ:

Chỉ số giá vàng tháng 6/2016 tăng 0,03% so tháng trước; tăng 1,63% so với tháng 12/2015 và giảm 3,19% so cùng tháng năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 6/2016 tăng 0,25% so tháng trước; giảm 1,27% so tháng 12/2015 và tăng 2,36% so cùng tháng năm trước.

7. Vận tải, bưu chính viễn thông

a) Vận tải:

Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ, đường thủy 6 tháng đầu năm 2016 ước được 2.115,31 tỷ đồng, tăng 9,06% so cùng kỳ năm trước: Vận tải đường bộ được 1.592,47 tỷ đồng, tăng 7,22%; vận tải đường thủy 90,82 tỷ đồng, tăng 12,93%; vận tải kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 432,02 tỷ đồng, tăng 15,51%. Trong tổng doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ, đường thủy: Kinh tế nhà nước được 262,17 tỷ đồng, tăng 61,65%; kinh tế ngoài nhà nước 1.795,27 tỷ đồng, tăng 8,39%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 57,87 tỷ đồng, giảm 52,22%.

Vận chuyển hàng hóa đường bộ và đường thủy 6 tháng đầu năm 2016 ước được 14.576,1 nghìn tấn, tăng 7,8% so cùng kỳ năm trước: Đường bộ được 14.447,1 nghìn tấn và đường biển được 129 nghìn tấn, tăng lần lượt là 7,78% và 10,35%; luân chuyển hàng hóa 1.342.447 nghìn tấn.km, tăng 7,36%: Đường bộ 1.104.952 nghìn tấn.km và đường biển 237.495 nghìn tấn.km tăng lần lượt là 6,52% và 11,45%.

Vận chuyển hành khách đường bộ và đường thủy 6 tháng đầu năm 2016 ước được 19.552 nghìn lượt người, tăng 6,14% so cùng kỳ năm trước: Đường bộ được 18.620 nghìn lượt người và đường biển được 932 nghìn lượt người, tăng lần lượt là 5,71% và 15,4%; luân chuyển hành khách 1.100.236 nghìn lượt người.km, tăng 5,9%: Đường bộ 1.091.014 nghìn lượt người.km và đường biển 9.222 nghìn lượt người.km tăng lần lượt là 5,83% và 13,93%.

Doanh thu vận chuyển đường sắt 6 tháng đầu năm 2016 ước được 102,16 tỷ đồng, giảm 1,96% so cùng kỳ năm trước: Vận chuyển hành khách 98,04 tỷ đồng, giảm 2,4%; vận chuyển hàng hóa được 4,11 tỷ đồng, tăng 9,77%. Vận chuyển hành khách đường sắt được 344.031 lượt người, giảm 1,42%; luân chuyển hành khách 149.512,08 nghìn lượt người.km, giảm 2,2%; vận chuyển hàng hóa 6.159 tấn; luân chuyển hàng hóa 7.090,64 nghìn tấn.km, tăng lần lượt là 6,95% và 9,48%.

Từ ngày 16/5/2016 đến 15/6/2016, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 16 vụ tai nạn và va chạm giao thông đường bộ làm chết 07 người, bị thương 12 người. Tính chung 6 tháng đầu năm 2016 (từ ngày 16/12/2015 đến ngày 15/6/2016) trên địa bàn tỉnh xảy ra 84 vụ tai nạn và va chạm giao thông đường bộ làm chết 68 người; bị thương 41 người. Tai nạn giao thông đường sắt xảy ra 03 vụ; chết 03 người. So cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn và va chạm giao thông đường bộ giảm 12 vụ; số người chết giảm 09 người; bị thương giảm 16 người. Về số vụ tai nạn đường sắt giảm 05 vụ so cùng kỳ năm trước; số người chết giảm 04 người; bị thương giảm 04 người.

b) Bưu chính viễn thông:

Số thuê bao điện thoại phát triển mới 6 tháng đầu năm 2016 được 5.660 thuê bao, nâng tổng số thuê bao điện thoại trên toàn tỉnh đến nay là 172.340 thuê bao: 92.520 thuê bao cố định và 79.820 thuê bao di động trả sau. 6 tháng đầu năm 2016, tổng doanh thu bưu chính viễn thông ước được 667,7 tỷ đồng, tăng 20,72% so cùng kỳ năm trước; 23,7 nghìn bưu kiện đi có cước, tăng 3,49%; 44,43 nghìn bức thư và điện chuyển tiền, tăng 70,84%; phát hành báo chí được 8.924 nghìn tờ, cuốn, giảm 66,92%.

8. Tài chính, ngân hàng

a) Tài chính:

Tổng thu ngân sách nhà nước 6 tháng đầu năm 2016 ước được 8.363,11 tỷ đồng, bằng 60,29% dự toán năm và tăng 36,3% so cùng kỳ năm trước: Thu nội địa 6.162,82 tỷ đồng, bằng 57,61% và tăng 31,33%; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 2.200,29 tỷ đồng, bằng 69,3% và tăng 52,46%. Trong tổng thu nội địa có các khoản thu tăng so với cùng kỳ năm trước: Thu tiền cho thuê mặt đất, mặt nước 312,44 tỷ đồng, tăng gấp 3,86 lần; thu thuế bảo vệ môi trường 290 tỷ đồng, tăng gấp 2,5 lần; thu từ khu vực CTN ngoài quốc doanh 1.600,06 tỷ đồng, tăng 87,4%; thu cổ tức và lợi nhuận sau thuế 182,94 tỷ đồng, tăng 78,79%; phí và lệ phí 177,49 tỷ đồng, tăng 73,69%; thu từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 169,92 tỷ đồng, tăng 44,76%; thu thuế thu nhập cá nhân 320,11 tỷ đồng, tăng 35,64%; thu lệ phí trước bạ 153,03 tỷ đồng, tăng 24,36%; thu tiền bán và thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước 5,06 tỷ đồng, tăng 12,63%; thu thuế sử dụng đất nông nghiệp 600 triệu đồng, tăng 11,73%. Các khoản thu tăng thấp hoặc giảm: Thu từ doanh nghiệp trung ương 229,75 tỷ đồng, tăng 8,73%; thu xổ số kiến thiết 120,39 tỷ đồng, tăng 4,03%; thu từ doanh nghiệp nhà nước địa phương 1.900,29 tỷ đồng, tăng 2,54%; thu khác ngân sách và thu ngân sách xã 80,5 tỷ đồng, giảm 6,73%; thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 8,01 tỷ đồng, giảm 11,96%; thu tiền sử dụng đất 596,81 tỷ đồng, giảm 12,28%.

Tổng chi ngân sách nhà nước địa phương 6 tháng đầu năm 2016 ước được 5.471,54 tỷ đồng, bằng 59,03% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển được 2.177,01 tỷ đồng, bằng 95,01% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 538,19 tỷ đồng, bằng 65,71%); chi thường xuyên 2.402,94 tỷ đồng, bằng 46,29% với các khoản chi như: Chi trợ giá trợ cước 6,55 tỷ đồng, bằng 77,32%; chi sự nghiệp kinh tế 247,95 tỷ đồng, bằng 40,44%; chi sự nghiệp văn xã 1.503,56 tỷ đồng, bằng 48,77%; chi quản lý hành chính 510,04 tỷ đồng, bằng 51,72%; chi quốc phòng an ninh 69,83 tỷ đồng, bằng 44,98%; chi khác ngân sách 65 tỷ đồng, bằng 19,96%. So cùng kỳ năm trước, tổng chi ngân sách nhà nước địa phương tăng 17,33%, trong đó chi đầu tư phát triển tăng 8,24%; chi thường xuyên tăng 8,53%.

b) Ngân hàng:

6 tháng đầu năm 2016, các Chi nhánh TCTD trên địa bàn tỉnh đã tích cực triển khai các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp như: Chủ động tiếp cận doanh nghiệp để nắm bắt nhu cầu vay, cân đối nguồn vốn cho vay, cải cách hành chính, thực hiện tốt các chương trình kinh tế, mặt bằng lãi suất ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận vốn ngân hàng. Lãi suất huy động VND kỳ hạn dưới 1 tháng là 0,3%-1%/năm; lãi suất kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng là 4,0%-5,5%/năm; lãi suất kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng là 5,2%-6,6%/năm; đối với kỳ hạn từ 12 tháng trở lên là 6%-7,5/năm; lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND áp dụng cho các đối tượng ưu tiên là 6%-7%/năm và trung dài hạn 9%-10%/năm; lãi suất cho vay sản xuất, kinh doanh khác của khối NHTM Nhà nước ngắn hạn ở mức 7%-9,5%/năm; trung dài hạn ở mức 9,7%-11%/năm; khối NHTM cổ phần ngắn hạn ở mức 8,5%-11%/năm; trung dài hạn ở mức 10,5%-11,5%/năm; lãi suất cho vay USD ở mức 2,8%-4,5%/năm đối với ngắn hạn; 4,3%-6,5%/năm đối với trung và dài hạn. Các Chi nhánh TCTD tiếp tục đẩy mạnh các biện pháp huy động vốn nhằm khai thác tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư để đảm bảo nguồn vốn cho vay và đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng. Nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng đến cuối tháng 6/2016 ước được 57.755 tỷ đồng, tăng 22,29% so cùng kỳ năm trước; dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng là 46.450 tỷ đồng, tăng 20,17%.

9. Các vấn đề xã hội:

a) Đời sống dân cư và đảm bảo an toàn xã hội:

6 tháng đầu năm 2016, toàn tỉnh đã tổ chức đào tạo nghề cho 9.882 người đạt 40,33% so với chỉ tiêu kế hoạch giao, trong đó chủ yếu đào tạo sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên. Trung tâm dịch vụ việc làm đã tổ chức nhiều phiên giao dịch việc làm với sự tham gia nhiều doanh nghiệp, người lao động.

Sản xuất kinh doanh tiếp tục phát triển, các hoạt động thương mại dịch vụ được đầu tư mở rộng; đời sống của những người sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản, công nghiệp, dịch vụ nhìn chung ổn định; an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội được giữ vững; nhà nước thực hiện nhiều chính sách an sinh xã hội; nhiều tổ chức xã hội, doanh nghiệp quan tâm hỗ trợ kinh phí thăm hỏi tặng quà các hộ nghèo, hộ chính sách xã hội nên đã góp phần ổn định thu nhập, cải thiện đời sống các tầng lớp dân cư trong tỉnh.

Đến nay toàn tỉnh không có thiệt hại về thiên tai và chưa có hiện tượng thiếu đói xảy ra, các chính sách xã hội luôn được tỉnh đặc biệt quan tâm và thực hiện tốt. Thực hiện tốt công tác cứu trợ xã hội đột xuất, hỗ trợ kịp thời cho người dân bị thiệt hại khi gặp rủi ro, thiên tai, tạo môi trường xã hội tốt đẹp, lành mạnh. Nhiều chính sách và giải pháp đồng bộ nhằm phát triển kinh tế - xã hội vùng nông thôn, miền núi, hải đảo tiếp tục phát huy tác dụng, nhờ đó, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi hộ nghèo, người dân nông thôn được cải thiện đáng kể. Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh cho vay 1.887 tỷ đồng, trong đó cho hộ nghèo vay vốn với tổng số tiền 198 tỷ đồng; hộ cận nghèo vay 505 tỷ đồng; hộ gia đình sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn vay 121 tỷ đồng; hộ vay vốn hỗ trợ nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường với tổng số tiền 517 tỷ đồng; hộ vay vốn giải quyết việc làm với tổng số tiền 57 tỷ đồng; cho vay hỗ trợ sinh viên với tổng số tiền 409 tỷ đồng.

Đời sống của cán bộ, công nhân viên nhà nước lực lượng vũ trang hưởng lương từ ngân sách nhà nước được ổn định do tăng thêm 8% mức lương được hưởng từ hệ số 2,34 trở xuống theo Nghị định 17/2015/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ.

Công tác đền ơn đáp nghĩa, hỗ trợ được các ngành các cấp quan tâm. Nhân dịp tết Nguyên đán Bính Thân năm 2016, tỉnh ủy, UBND tỉnh, các cơ quan trung ương và địa phương thăm và tặng quà cho đối tượng chính sách, người có công cách mạng, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, các hộ đồng bào dân tộc thiểu số, các chiến sỹ ở Trường Sa, thăm và tặng quà trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, hỗ trợ các đối tượng chính sách, cán bộ hưu trí, cán bộ công chức, viên chức hưởng lương, trợ cấp, phụ cấp từ ngân sách,… với tổng kinh phí trên 20 tỷ đồng. Thực hiện cứu trợ trợ 772,71 tấn gạo cho 51.514 hộ. Công tác hỗ trợ xây dựng sửa chữa nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết cho các đối tượng thuộc gia đình chính sách, hộ nghèo được đẩy mạnh, góp phần giúp các hộ gia đình chính sách, các hộ gia đình dân tộc thiểu số, miền núi cải thiện đời sống.

b) Giáo dục:

Ngành Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều nỗ lực thực hiện tốt kế hoạch, nhiệm vụ được giao. Mạng lưới trường học được trải rộng đến tận vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho con em nhân dân đến trường. Quy mô phát triển các ngành học ổn định, hợp lý và vững chắc, các điều kiện đảm bảo phát triển giáo dục được nâng cao từng bước, đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh. Toàn tỉnh hiện có 189 trường mầm non; 186 trường tiểu học; 117 trường trung học cơ sở; 34 trường trung học phổ thông. Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 các trường công lập đã được chuẩn bị chu đáo mọi mặt về phương thức tổ chức; năm học 2016 – 2017, toàn tỉnh sẽ tuyển mới 14.375 học sinh (HS) lớp 10, chiếm 85,48% so với học sinh lớp 9 đầu năm học: Trường phổ thông công lập 13.500 HS (công lập: 12.400 HS và ngoài công lập: 1.100 HS); giáo dục thường xuyên 875 HS. Về kỳ thi THPT quốc gia 2016, toàn tỉnh có 12.042 thí sinh đăng ký dự thi (8.602 thí sinh dự thi theo cụm thi xét tốt nghiệp THPT kết hợp xét tuyển đại học và 3.440 thí sinh dự thi theo cụm thi chỉ xét tốt nghiệp THPT). Đã tổ chức kỳ thi học sinh giỏi cấp quốc gia năm học 2015 – 2016 an toàn và nghiêm túc với 64 thí sinh của 10 đội tuyển dự thi, kết quả Khánh Hòa có 20 thí sinh đạt giải (01 giải nhì, 05 giải ba và 14 giải khuyến khích). Kết quả kỳ thi Olympic Tiếng Anh trên internet cấp tỉnh: Cấp tiểu học có 410/491 học sinh đạt giải (58 giải nhất; 111 giải nhì; 111 giải ba và 130 giải khuyến khích); cấp THCS có  452/1264 học sinh đạt giải (52 giải nhất; 110 giải nhì; 145 giải ba và 145 giải khuyến khích); cấp THPT có 76/206 học sinh đạt giải (8 giải nhất; 12 giải nhì; 29 giải ba và 27 giải khuyến khích). Kết quả kỳ thi giải Toán bằng Tiếng Anh, giải Toán bằng Tiếng Việt trên internet cấp quốc gia, đạt 01 vàng; 02 bạc; 08 đồng. Đến nay toàn tỉnh có 206/525 trường đạt chuẩn quốc gia, chiếm 39,24% và tăng 18 trường so cùng kỳ năm học trước, trong đó: 58 trường mầm non, 73 trường tiểu học, 67 trường THCS và 08 trường THPT.

c) Y tế:

Ngành Y tế đã chủ động tham mưu UBND tỉnh ban hành kế hoạch phòng chống dịch bệnh sốt xuất huyết và bệnh do virút Zika trên địa bàn tỉnh; chỉ đạo công tác tập huấn và truyền thông, giám sát chặt chẽ công tác diệt bọ gậy và phun thuốc diệt muỗi trên địa bàn toàn tỉnh nên đến nay toàn tỉnh chưa ghi nhận trường hợp nhiễm virút Zika. Các bệnh viện đã triển khai tốt công tác khám, chữa bệnh phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân. 6 tháng đầu năm 2016, ngành Y tế đã khám chữa bệnh cho 1.592,9 nghìn lượt người; phẫu thuật 11.966 lượt người; điều trị nội trú 119,87 nghìn lượt người; ghi nhận 402 ca mắc bệnh tay chân miệng; 3.253 ca sốt xuất huyết; 01 ca Zika. Chương trình chăm sóc trẻ em như uống Vitamin A, công tác chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em luôn được chú trọng. Đã thực hiện tiêm đủ liều cho 9.570 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm sởi mũi 2 cho 9.639 trẻ em 18 tháng tuổi; tiêm UV2+ cho 8.912 phụ nữ có thai; tiêm UV2 và UV2+ cho 10.567 phụ nữ 15-35. 6 tháng đầu năm 2016, trên địa bàn tỉnh xảy ra 2 vụ ngộ độc thực phẩm với 49 người bị ngộ độc (01 trường hợp tử vong) và 448 trường hợp có biểu hiện rối loạn tiêu hóa sau khi ăn.

Từ đầu năm đến nay đã phát hiện mới 47 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV đến nay là 3.372 người, trong đó 2.096 trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS; 1.198 người chết do AIDS.

d) Hoạt động văn hóa, thể thao:

Ngành Văn hóa và Thể thao tổ chức các hoạt động tuyên truyền chào mừng các ngày lễ, kỷ niệm lớn; tuyên truyền chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, bầu cử Quốc hội khóa XIV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021. Các hoạt động văn hóa, lễ hội lớn của tỉnh cũng được tổ chức chu đáo, thiết thực và hiệu quả như: Lễ hội Tháp Bà Ponagar, lễ hội Am Chúa, lễ Giỗ Tổ Hùng Vương... Trung tâm Điện ảnh tỉnh tổ chức 692 buổi chiếu phim lưu động phục vụ nhân dân miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa với 139,96 nghìn lượt người xem. Trung tâm Văn hóa tỉnh, nhà hát nghệ thuật truyền thống duy trì việc tổ chức hiệu quả các buổi biểu diễn nghệ thuật Bài Chòi và chương trình “Nghệ thuật đường phố”; Đoàn ca múa nhạc Hải Đăng và nhà hát tổ chức các buổi văn nghệ tại các huyện, thị xã với tổng cộng 189 buổi biểu diễn. Thư viện tỉnh phục vụ 52.900 lượt độc giả: Thiếu nhi 8.279 lượt; người lớn 41.945 lượt; phục vụ truy cập internet 2.676 lượt; luân chuyển sách tại chỗ 209.027 lượt; thực hiện cấp phát gia hạn 677 thẻ.

Về thể thao, đã tổ chức thành công các giải thể thao quần chúng; giải Futsal tỉnh Khánh Hòa năm 2016; giải đua xe đạp toàn quốc tranh cúp truyền hình thành phố Hồ Chí Minh; hội thao các dân tộc thiểu số năm 2016; khai mạc giải bóng đá hạng nhì quốc gia... Về thể thao thành tích cao đã tham gia thi đấu tại các giải như: Điền kinh; bóng đá U19; cử tạ, Taekwondo và Kickboxing; giải bóng bàn toàn quốc báo Nhân dân tại thành phố Hồ Chí Minh; giải điền kinh Hà Nội mở rộng; giải vô địch trẻ và Cúp Khiêu vũ thể thao mở rộng tại thành phố Đà Nẵng; Bóng chuyền quốc gia PV GAS tại Yên Bái; Cúp Hùng Vương tại Phú Thọ; đội Vovinam tại An Giang. Tổng số huy chương đạt được từ đầu năm đến ngày 8/6/2016 là 80 bộ huy chương (22 vàng, 29 bạc, 29 đồng); 9 kiện tướng; 16 VĐV cấp I.

Tóm lại: Kinh tế - xã hội của tỉnh 6 tháng đầu năm 2016 tiếp tục phát triển; nhiều chỉ tiêu kinh tế tăng khá so cùng kỳ năm trước: Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9%; tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tăng 14,52%; kim ngạch xuất khẩu tăng 13,44%; tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá so sánh 2010 tăng 7,7%; lạm phát được kiểm soát ở mức thấp... Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường được quan tâm chỉ đạo; công tác đền ơn đáp nghĩa, hỗ trợ người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số được nhà nước, các tổ chức xã hội và các DN quan tâm góp phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, đấu tranh chống tham nhũng được chú trọng. Sự nghiệp giáo dục y tế văn hoá thể dục thể thao, khoa học công nghệ... tiếp tục phát triển. Đời sống nhân dân nhìn chung vẫn giữ được ổn định, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội liên tục được giữ vững; tai nạn giao thông giảm ở cả 3 tiêu chí. 

Bên cạnh thành tích đạt được, kinh tế xã hội tỉnh vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức: Thời tiết nắng nóng kéo dài gây hạn hán ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp, nước sinh hoạt của nhân dân một số vùng trên địa bàn tỉnh; dịch sốt xuất huyết tuy đã có xu hướng giảm nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát; việc tăng nhanh thị trường khách du lịch quốc tế, đã làm nảy sinh nhiều bất cập, vướng mắc trong hoạt động kinh doanh du lịch như: Tình trạng người nước ngoài núp bóng người Việt Nam kinh doanh lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, mua sắm và các dịch vụ du lịch khác trên địa bàn; tình trạng trốn thuế, tour chui…

 Để hoàn thành nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh năm 2016, tạo đà cho việc thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 – 2020, trong thời gian tới các cấp, các ngành tiếp tục thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp đề ra của Nghị Quyết số 01/NQ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2016 của Chính phủ “về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2016”; Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020. 6 tháng cuối năm 2016 cần tăng cường theo dõi, giám sát thường xuyên công tác phòng chống dịch bệnh tại các địa phương trên địa bàn tỉnh, đặc biệt phòng chống bệnh sốt xuất huyết và bệnh do virút Zika; tiếp tục thực hiện công tác chống hạn và xâm nhập mặn, có kế hoạch điều tiết sử dụng hợp lý các nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất; tiếp tục thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp; cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh; đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, thể thao… và tích cực thực hiện tốt các Nghị quyết của Chính phủ, nhiều chỉ tiêu kinh tế xã hội năm 2016 có khả năng hoàn thành kế hoạch./.



Các bài mới nhất


THÔNG TIN MỚI

Quyết định số 3194/QĐ-UBND ngày 26/10/2017 của UBND tỉnh Khánh Hòa “Về việc ban hành biểu mẫu thu thập hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh”

Quyết định số 2881/QĐ-UBND của UBND tỉnh Khánh Hòa "Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án tăng cường quản lý nhà nước về chất lượng thống kê đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa"

Quyết định số 1692/QĐ-UBND ngày 14/6/2016 của UBND tỉnh Khánh Hòa "Về việc ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Thống kê trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa"

UBND tỉnh Khánh Hòa tổ chức Hội nghị phổ biến Luật Thống kê

Nghị định số 94/2016/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thống kê

Nghị định số 95/2016/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê

Nghị định số 97/2016/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định nội dung chỉ tiêu thống kê thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia

Tình hình kinh tế xã hội tháng 6 năm 2016

Tờ gấp Khánh Hòa
Kinh tế xã hội năm 2015

Quy trình kiểm tra, giám sát thực hiện phương án điều tra thống kê và chế độ báo cáo thống kê

 LIÊN KẾT WEBSITE